Tép Sulawesi gửi xa, nhất là tép nhập khẩu, đến tay bạn sau nhiều giờ hoặc nhiều ngày trong túi. Cách bạn mở túi, thuần nước và cách ly trong những ngày đầu quyết định phần lớn số tép sống sót.
Chuẩn bị trước khi tép đến
- Hồ cách ly đã chạy sẵn, có màng vi sinh, cùng loại khoáng, TDS, nhiệt độ với hồ chính. Nếu chưa có hồ cách ly, ít nhất hồ chính phải đã chạy xong cả hai giai đoạn.
- Hỏi người bán thông số nước họ đang nuôi (pH, TDS, nhiệt độ) để biết chênh lệch. Xem Mua tép ở đâu, hỏi gì trước khi mua.
- Chuẩn bị dụng cụ: xô hoặc hộp sạch, ống dây khí, van chỉnh, bút TDS, nhiệt kế, vợt nhỏ, thuốc khử amoniac (loại như Seachem Prime).
- Nhận hàng sớm, tránh để túi tép nằm ngoài trời nóng.
Chuyện gì xảy ra trong túi vận chuyển
Trong túi kín, tép thải amoniac và CO2. CO2 làm pH trong túi giảm xuống, nhờ vậy phần lớn amoniac ở dạng NH4+ ít độc. Khi mở túi, CO2 thoát ra, pH tăng dần, và amoniac chuyển sang dạng NH3 rất độc. Tép Sulawesi lại được thả vào nước kiềm, nơi phần NH3 lớn nhất. Vì vậy:
- Đừng mở túi rồi để đó lâu. Sau khi mở, chuyển tép sang xô thuần nước ngay.
- Có thể cho thuốc khử amoniac vào xô thuần theo liều cho thể tích xô.
- Không đổ nước trong túi vào hồ.
Thuần nước từng bước
- Tắt đèn. Mở thùng hàng ở chỗ tối, chụp ảnh túi trước khi mở để có bằng chứng nếu có tép chết khi đến.
- Cân nhiệt. Thả túi còn kín nổi trong hồ cách ly khoảng 15 phút.
- Chuyển sang xô. Đổ tép cùng nước trong túi vào xô sạch, đo TDS và pH của nước túi.
- Nhỏ giọt. Dùng ống dây khí có van, cho nước hồ nhỏ giọt chậm vào xô, khoảng 1 – 2 giọt mỗi giây.
- Theo dõi TDS. Tiếp tục đến khi TDS trong xô gần bằng TDS hồ, thường khi nước trong xô gấp khoảng 3 – 4 lần ban đầu. Nếu chênh lệch lớn, chắt bớt nước xô ra rồi nhỏ giọt tiếp.
- Chuyển tép. Dùng vợt hoặc thìa chuyển tép vào hồ cách ly. Bỏ nước trong xô.
Không có con số thời gian đúng cho mọi trường hợp. Chênh lệch TDS và pH càng lớn thì càng nhỏ giọt chậm. Tép bơi loạn, lật ngửa, hoặc đổi màu đột ngột là dấu hiệu nước thay đổi quá nhanh.
Cách ly
- Nuôi tép mới riêng ít nhất 2 tuần; dài hơn nếu là tép nhập khẩu hoặc có con chết trong đợt đầu.
- Quan sát hằng ngày: vật bám trắng trên thân và mang (Vorticella, Scutariella), thân trắng đục, tép chết liên tiếp. Xem Vorticella và Scutariella.
- Cho ăn rất ít trong vài ngày đầu; tép mới về thường chưa ăn ngay.
- Ghi lại số con chết mỗi ngày. Chết nhiều trong vài ngày đầu thường liên quan đến vận chuyển; chết rải rác kéo dài là dấu hiệu cần tìm nguyên nhân. Xem Tép chết rải rác, chết hàng loạt.
Những điều nên biết trước
- Tép ôm trứng khi gửi đi thường rụng trứng.
- Tép mới về nhạt màu là bình thường; màu trở lại sau vài tuần nước ổn định. Xem Màu sắc và dinh dưỡng.
- Không thả tép mới vào hồ chính đang có đàn khỏe chỉ vì tiếc công cách ly. Một lần mang bệnh vào có thể mất cả đàn.
Nguồn tham khảo
- Aquatics Unlimited. Acclimation of shipped livestock (pH và amoniac trong túi vận chuyển, cách nhỏ giọt). Xem bài
- NSW Department of Primary Industries. Monitoring ammonia (bảng tỉ lệ NH3 theo pH và nhiệt độ). Xem bài
- Aquarium Co-Op. Do I need to quarantine shrimp and snails? Xem bài
- Gensou (2026). Sulawesi Shrimp Care Guide (kinh nghiệm người chơi). Xem bài