Ảnh chụp tép White Sock
Tên khoa học
Caridina dennerli von Rintelen & Cai, 2009
Tên khác
Cardinal, Hồng y, Chân trắng
Nguồn gốc
hồ Matano, hệ hồ Malili, đảo Sulawesi, Indonesia
Bảo tồn
Cực kỳ nguy cấp (IUCN, 2018); không còn ghi nhận ngoài tự nhiên từ năm 2013, tép bán ra hiện nay chủ yếu là tép nhân giống
Kích thước và tuổi thọ
1,5 – 2,5 cm; sống 1 – 2 năm
Độ khó
dễ nhất trong các dòng tép Sulawesi, hợp cho người mới bắt đầu

Nhận dạng

Thân đỏ đậm, điểm các chấm trắng mịn. Đôi chân trước trắng sáng, luôn khua liên tục khi ăn, trông như đi tất trắng nên có tên White Sock. Mật độ chấm và độ sáng của chân khác nhau giữa các cá thể.

Tép hiền, khá nhát, dành phần lớn thời gian trong ngày để gặm màng vi sinh trên đá. White Sock và Cardinal là hai tên thương mại của cùng một loài.

Bảng thông số

  • Hồ tối thiểu20 lít (nên từ 40 lít để nước ổn định hơn)
  • Nhiệt độ26 – 30 °C
  • pH7,5 – 8,5
  • GH4 – 8
  • KH3 – 6
  • TDS150 – 250 ppm
  • NH3 / NO20
  • NO3dưới 10 ppm
  • Ánh sángyếu đến vừa, 6 – 8 giờ mỗi ngày
  • NềnSulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand (nền khoáng không hạ pH)
  • Nướcnước RO pha khoáng Sulawesi 7.5
  • Lọclọc ngoài (lọc thùng) hoặc lọc bio (lọc bông), kèm sủi oxy; dòng chảy nhẹ

Mức nuôi thực tế tại trại nhân giống tham khảo là TDS 150 ppm, GH 6 – 7, pH 7,5. KH dưới 3 là chỉ số cần sửa trước khi thả tép. Đo trên nước trong hồ, không đo nước trong xô pha.

Hồ nuôi

Dùng nền Sulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand và đá trơ. Không dùng nền công nghiệp hạ pH hoặc hạ KH (như ADA Amazonia). Xếp đá có khe và mái che để tép nhát có chỗ trú.

Tép không ổn định được trong hồ còn mới. Lọc đã có vi sinh chưa đủ: trên đá phải nhìn thấy một lớp màng vi sinh và tảo mềm, vì đó là thức ăn của tép. Một hồ cũ nhưng đá trơ trụi, không có lớp màng này cũng chưa đạt. Hồ cần chạy đủ hai giai đoạn trước khi thả tép: 4 – 6 tuần để hoàn thành chu trình nitơ, thêm 6 – 8 tuần để màng vi sinh phủ kín đá, tức khoảng 3 tháng.

Thức ăn

Thức ăn chính là màng vi sinh và tảo. Thức ăn chế biến không thay được một hồ đã có lớp màng này.

Chỉ cho thức ăn chế biến khoảng một lần mỗi tuần, lượng nhỏ, còn thừa thì hút ra. Nhiều con ít quan tâm tới thức ăn chế biến, và thức ăn thừa trong nước ấm phân hủy thành amoniac.

Thức ăn bổ sung: bột mịn (tảo spirulina, bột vi sinh), viên chuyên cho tép Sulawesi, lá khô (lá bàng, lá dâu tằm, lá ổi; lá bàng làm giảm pH nên mỗi lần chỉ dùng một miếng lá nhỏ) và rau chần (cải bó xôi, bí ngòi). Liều lượng và cách cho ăn xem tại Thức ăn và cách cho ăn.

Sinh sản

Tép cái ôm 10 – 20 trứng mỗi lứa, ấp khoảng 4 – 6 tuần. Tép con nở ra đã có hình dạng hoàn chỉnh, không qua giai đoạn ấu trùng.

Khó phân biệt đực cái khi tép còn nhỏ, nên muốn nhân giống hãy mua theo nhóm từ 10 – 15 con rồi chờ tép trưởng thành.

Nuôi chung

  • Nên: ốc Sulawesi (Tylomelania). Ốc sống cùng hồ gốc với tép nhưng thải nhiều, cần tính vào mật độ nuôi.
  • Không nên: tép ong (cần nước mềm, axit), tép màu (nuôi mát hơn và tranh màng vi sinh), và hầu hết các loại cá vì chúng ăn tép con.
  • White Sock, Blue Ghost, Yellow Ghost, Oiran và các dòng cùng loài khác có thể lai với nhau. Mỗi dòng nên có một hồ riêng.

Khi tép mới về

  • Thả nổi túi 15 – 20 phút cho cân bằng nhiệt độ, rồi thuần nước nhỏ giọt trong 2 – 3 giờ theo hướng dẫn ở Chọn mua và thả tép.
  • Dùng vợt vớt tép sang hồ. Không đổ nước trong túi vào hồ.
  • Tắt đèn đến hết ngày và không cho ăn trong ngày đầu.
  • Hai tuần đầu chỉ thay nước ít, nước mới khớp thông số với nước hồ.

Lỗi thường gặp

  1. Thả tép vào hồ chưa già, đá chưa có màng vi sinh.
  2. Cho rằng lọc đã có vi sinh nghĩa là hồ đã có đủ thức ăn.
  3. Bỏ qua khi KH xuống dưới 3.
  4. Nuôi chung với tép ong.
  5. Để thức ăn thừa trong hồ, hoặc trông vào thức ăn chế biến thay cho màng vi sinh.
  6. Trộn các dòng cùng loài trong một hồ.
  7. Châm bù nước bay hơi bằng nước đã pha khoáng, làm GH và TDS tăng dần. Chỉ châm bù bằng nước RO.