Tép Sulawesi không yếu, chúng chỉ không chịu được thay đổi. Cái khó nằm ở chỗ phải giữ đồng thời nhiệt độ cao, pH kiềm và nước rất sạch trong một hồ nhỏ, liên tục nhiều tháng.
So sánh với tép màu và tép ong

| Yếu tố | Tép màu (Neocaridina) | Tép ong (Caridina) | Tép Sulawesi |
|---|---|---|---|
| Nhiệt độ | 20 – 28 °C | 20 – 24 °C | 27 – 30 °C |
| pH | 6,5 – 7,8 | 5,5 – 6,5 | 7,5 – 8,5 |
| Nền | gần như nền nào cũng được | nền công nghiệp hạ pH | nền khoáng không hạ pH |
| Nước | nước máy khử clo thường đủ | RO pha khoáng GH+ | RO pha khoáng Sulawesi |
| Chịu dao động | tốt | trung bình | kém |
| Tốc độ sinh sản | nhanh, 20 – 40 trứng mỗi lứa | trung bình | chậm, 10 – 30 trứng mỗi lứa |
Năm lý do chính
- Nhiệt độ cao làm mọi thứ diễn ra nhanh hơn. Ở 29 °C thức ăn thừa phân hủy nhanh, nước bay hơi nhanh và lượng oxy hòa tan thấp hơn.
- Amoniac độc hơn nhiều ở pH cao. Trong hồ tép ong pH 6, amoni gần như vô hại. Ở pH 8 và 29 °C, phần lớn chuyển thành dạng NH3 độc. Một lần cho ăn dư có thể đủ gây chết tép.
- Tép quen với môi trường không đổi. Hồ gốc hầu như không dao động, nên tép phản ứng mạnh với thay đổi nhỏ về nhiệt độ, TDS hay pH.
- Phụ thuộc màng vi sinh. Nhiều dòng, nhất là nhóm hồ Towuti, ăn chủ yếu màng vi sinh trên đá. Hồ mới chưa có lớp này thì tép đói dù được cho ăn.
- Sinh sản chậm. Đàn hồi phục lâu sau mỗi sự cố, nên một sai lầm phải trả giá nhiều tháng.
Vậy người mới có nuôi được không?
Được, nếu chấp nhận ba điều: chờ hồ đủ già (chạy xong hai giai đoạn: chu trình nitơ rồi màng vi sinh phủ kín đá, khoảng 3 tháng), bắt đầu bằng dòng dễ như White Sock, và hạn chế can thiệp vào hồ. Với tép Sulawesi, làm ít và làm đều luôn tốt hơn làm nhiều.