
- Tên khoa học
- Caridina dennerli (dòng màu chọn lọc)
- Tên khác
- Sulawesi Oiran; đôi khi bị viết nhầm thành Orian
- Nguồn gốc
- dòng lai tạo trong hồ nuôi từ tép chân trắng hồ Matano, không có trong tự nhiên
- Bảo tồn
- Dòng nuôi, không có trong tự nhiên. Loài gốc C. dennerli: Cực kỳ nguy cấp (IUCN, 2018)
- Kích thước và tuổi thọ
- 1,5 – 2,5 cm; sống 1 – 2 năm
- Độ khó
- khó (nâng cao đến chuyên gia)
Nhận dạng
Oiran là một dòng màu của tép chân trắng. Thân đỏ phủ các mảng trắng lớn loang lổ, và điểm đặc trưng là màu trắng lan xuống cả các đôi chân và xòe ra quạt đuôi. Ở White Sock thường, màu trắng chỉ là các chấm nhỏ trên thân và đôi càng trước.
Hoa văn khác nhau giữa từng cá thể: có con trắng nhiều, có con đỏ nhiều. Ngoài dòng mắt đen còn có dòng Oiran mắt cam (Orange Eyes Oiran).
Tép thường được bán khi còn nhỏ; độ tương phản màu rõ dần qua những lần lột vỏ đầu tiên trong hồ của bạn.
Bảng thông số
- Hồ tối thiểu20 lít (nên từ 40 lít để nước ổn định hơn)
- Nhiệt độ26 – 30 °C
- pH7,5 – 8,5
- GH4 – 8
- KH3 – 6
- TDS150 – 250 ppm
- NH3 / NO20
- NO3dưới 10 ppm
- Ánh sángyếu đến vừa, 6 – 8 giờ mỗi ngày
- NềnSulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand (nền khoáng không hạ pH)
- Nướcnước RO pha khoáng Sulawesi 7.5
- Lọclọc ngoài (lọc thùng) hoặc lọc bio (lọc bông), kèm sủi oxy; dòng chảy nhẹ
Mức nuôi thực tế tại trại nhân giống tham khảo là TDS 150 ppm, GH 6 – 7, pH 7,5. KH dưới 3 là chỉ số cần sửa trước khi thả tép. Đo trên nước trong hồ.
Hồ nuôi
Dùng nền Sulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand, xếp đá nham thạch thành nhiều khe và hốc vì Oiran khá nhát. Không dùng nền công nghiệp hạ pH. Hồ cần chạy đủ hai giai đoạn trước khi thả tép: 4 – 6 tuần để hoàn thành chu trình nitơ, thêm 6 – 8 tuần để màng vi sinh phủ kín đá, tức khoảng 3 tháng. Nếu KH đo được dưới 3, hãy chỉnh KH trước rồi mới tính đến các thông số khác. Cách dựng hồ chi tiết xem ở Setup hồ mới.
Vì đây là dòng hiếm và đắt, nên luyện tay với White Sock thường trong cùng kiểu hồ trước khi nuôi Oiran.
Thức ăn
Thức ăn chính là màng vi sinh, tảo cát và tảo trên đá và kính. Hai tuần đầu cứ để đàn tép tự gặm. Sau đó cho thức ăn chế biến khoảng một phần nhỏ mỗi tuần và hút phần thừa trên đá sau vài phút.
Thức ăn bổ sung: bột mịn (tảo spirulina, bột vi sinh), viên chuyên cho tép Sulawesi, lá khô (lá bàng, lá dâu tằm, lá ổi; lá bàng làm giảm pH nên mỗi lần chỉ dùng một miếng lá nhỏ) và rau chần (cải bó xôi, bí ngòi). Liều lượng và cách cho ăn xem tại Thức ăn và cách cho ăn.
Sinh sản
Sinh sản giống White Sock: tép cái ôm 10 – 20 trứng mỗi lứa, ấp khoảng 4 – 6 tuần, tép con nở ra đã hoàn chỉnh. Tép bán ra thường còn nhỏ và chưa phân biệt được đực cái, nên muốn nhân giống cần mua một nhóm rồi chờ trưởng thành.
Hoa văn không ổn định hoàn toàn qua các thế hệ. Giữ lại những cá thể có mảng trắng rõ ở chân và đuôi làm giống.
Nuôi chung
- Nên: ốc Sulawesi (Tylomelania). Ốc dùng chung nước và cùng gặm màng vi sinh, nên phải tính vào mật độ nuôi.
- Vài con tép màu có thể ở chung nếu nhiệt độ hợp cả hai và đủ bề mặt gặm. Không nên nuôi cả một đàn tép màu sinh sản vì chúng tranh cùng lớp màng vi sinh.
- Không nên: tép ong (cần nước mềm, axit) và hầu hết các loại cá, kể cả cá hiền, vì chúng ăn tép con.
- White Sock, Blue Ghost và Yellow Ghost có thể lai với Oiran. Muốn giữ Oiran thuần thì nuôi tách khỏi ba dòng này.
Khi tép mới về
- Thả nổi túi 15 – 20 phút cho cân bằng nhiệt độ, rồi thuần nước nhỏ giọt trong 2 – 3 giờ theo hướng dẫn ở Chọn mua và thả tép.
- Dùng vợt vớt tép sang hồ. Không đổ nước trong túi vào hồ.
- Tắt đèn hoặc để đèn yếu trong 24 giờ đầu và không cho ăn ngày đầu.
- Tuần đầu đo NH3, NO2, nhiệt độ và TDS, và thay đổi càng ít càng tốt.
Lỗi thường gặp
- Thả tép vào hồ chưa đủ già.
- Thay nước quá 10% một lần, hoặc nước mới lệch nhiệt độ và TDS.
- Châm bù nước bay hơi bằng nước đã pha khoáng. Chỉ châm bù bằng nước RO.
- Cho ăn dư làm NO3 tăng.
- Nuôi chung với các dòng chân trắng khác rồi mất dần hoa văn qua các thế hệ.
- Bỏ qua khi KH xuống dưới 3.
- Coi NH3 bằng 0 là hồ đã sẵn sàng, trong khi đá chưa có đủ màng vi sinh.