Ảnh chụp tép Yellow Nose
Tên khoa học
Caridina spinata Woltereck, 1937
Tên khác
Mũi vàng, Yellow Goldflake
Nguồn gốc
hồ Towuti, đảo Sulawesi, Indonesia
Bảo tồn
Cực kỳ nguy cấp (IUCN)
Kích thước và tuổi thọ
0,8 – 1,5 cm; sống 1,5 – 2 năm
Độ khó
khó (nâng cao): dễ chịu khi hồ đã đúng, không nương tay khi hồ chưa đúng

Nhận dạng

Điểm đặc trưng là đầu mũi (chủy) màu vàng trên nền thân sẫm màu, rõ nhất ở tép trưởng thành đã ổn định. Tép cái trưởng thành có phần bụng dưới sâu và tròn hơn, đôi khi thấy buồng trứng màu vàng hoặc sẫm phía sau đầu.

Được xếp cùng loài Caridina spinata với Yellow Cheek.

Bảng thông số

  • Hồ tối thiểu40 lít, hồ càng lớn càng dễ giữ ổn định
  • Nhiệt độ26 – 30 °C
  • pH7,5 – 8,5
  • GH4 – 8
  • KH3 – 6
  • TDS150 – 250 ppm
  • NH3 / NO20
  • NO3dưới 10 ppm
  • Ánh sángyếu đến vừa, 6 – 8 giờ mỗi ngày
  • NềnSulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand (nền khoáng không hạ pH)
  • Nướcnước RO pha khoáng Sulawesi 7.5
  • Lọclọc ngoài (lọc thùng) hoặc lọc bio (lọc bông), kèm sủi oxy; dòng chảy nhẹ

Mức nuôi thực tế tại trại nhân giống tham khảo là TDS 150 ppm, GH 6 – 7, pH 7,5, pha từ nước RO với khoáng Sulawesi 7.5. Giữ thông số đứng yên quan trọng hơn chạy theo một con số đẹp.

Hồ nuôi

Các dòng hồ Towuti sống trên nền đá, ăn màng vi sinh bám trên bề mặt cứng. Hồ nên có nhiều đá nham thạch, đá cuội xếp thành khe hốc, ít hoặc không trồng cây, và phải thật già: chạy đủ hai giai đoạn (4 – 6 tuần cho chu trình nitơ, thêm 6 – 8 tuần để màng vi sinh phủ kín đá, tức khoảng 3 tháng), bề mặt đá đã phủ lớp rêu tảo mỏng. Dùng nền Sulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand. Hạn chế lũa lớn vì lũa nhả tannin làm pH dao động.

Yellow Nose là loài chuyên gặm đá. Một đàn có thể ăn sạch màng vi sinh của hồ non chỉ trong vài tuần, nên đừng thả nhiều con vào hồ nhỏ.

Trại tham khảo dùng đá nham thạch Sula Sand vì trơ và giữ pH ổn định. Giai đoạn đầu chạy hồ, bật đèn 8 – 10 giờ mỗi ngày để tảo và màng vi sinh bám lên đá và kính.

Trước khi thả tép: NH3 và NO2 bằng 0 ở hai lần đo cách nhau vài ngày; nhiệt độ, pH, KH và TDS đứng yên ít nhất một tuần mà không phải chỉnh; đá và kính đã có lớp màng tảo và vi sinh nhìn thấy được. Không thả tép vào hồ mới dựng trong tháng, dù chỉ số đẹp đến đâu.

Thức ăn

Thức ăn chính là màng vi sinh, tảo và tảo cát bám trên đá và kính. Thức ăn chế biến không bù được cho một hồ chưa có lớp màng này.

Chỉ cho thức ăn chế biến khoảng một lần mỗi tuần, lượng nhỏ, còn thừa thì hút ra. Thức ăn thừa trong nước ấm phân hủy nhanh, làm tăng amoniac và NO3.

Thức ăn bổ sung: bột mịn (tảo spirulina, bột vi sinh), viên chuyên cho tép Sulawesi, lá khô (lá bàng, lá dâu tằm, lá ổi; lá bàng làm giảm pH nên mỗi lần chỉ dùng một miếng lá nhỏ) và rau chần (cải bó xôi, bí ngòi). Liều lượng và cách cho ăn xem tại Thức ăn và cách cho ăn.

Sinh sản

Tép cái ôm khoảng 20 – 30 trứng, ấp 20 – 28 ngày. Tép con nở ra đã hoàn chỉnh, không qua giai đoạn ấu trùng.

Nên mua theo nhóm chứ không mua một cặp. Trại tham khảo lập nhóm giống theo tỷ lệ 2 đực : 8 cái hoặc 3 đực : 7 cái.

Nuôi chung

  • Nên: ốc Sulawesi (Tylomelania). Ốc dùng chung nước và cùng gặm màng vi sinh, nên phải tính vào mật độ nuôi.
  • Không nên: tép ong, vì hai nhóm cần nước trái ngược nhau.
  • Trại tham khảo chưa có ghi nhận Yellow Nose lai với các dòng khác. Dù vậy, nếu muốn giữ dòng thuần, hãy nuôi Yellow Nose trong hồ riêng, tách khỏi Yellow Cheek cùng loài.

Khi tép mới về

  • Thả nổi túi 15 – 20 phút cho cân bằng nhiệt độ, rồi thuần nước nhỏ giọt trong 2 – 3 giờ theo hướng dẫn ở Chọn mua và thả tép.
  • Dùng vợt vớt tép sang hồ. Không đổ nước trong túi vào hồ.
  • Tắt đèn hoặc để đèn yếu trong 24 giờ đầu và không cho ăn ngày đầu.
  • Tuần đầu đo NH3, NO2, nhiệt độ và TDS, và thay đổi càng ít càng tốt.

Lỗi thường gặp

  1. Thả tép vào hồ mới, đá chưa có màng vi sinh. Đây là nguyên nhân mất đàn phổ biến nhất của các dòng hồ Towuti.
  2. Dùng nền hạ pH, lũa hoặc quá nhiều lá khô làm pH và KH tụt dần.
  3. Thay nước quá 10% một lần, hoặc nước mới lệch nhiệt độ và TDS.
  4. Cho ăn dư. Nhóm này ăn ít thức ăn công nghiệp, phần thừa phân hủy rất nhanh ở 29 °C.