
- Tên khoa học
- Caridina sp. “Red Line Blue Dot”, chưa được mô tả khoa học; nhiều nơi bán ghi Caridina striata
- Tên khác
- Red Line, Red Line Blue Dot
- Nguồn gốc
- hệ hồ Malili, đảo Sulawesi, Indonesia
- Bảo tồn
- Nếu là Caridina striata von Rintelen & Cai, 2009 (sống ở hồ Towuti và hồ Mahalona): Cực kỳ nguy cấp (IUCN, 2019)
- Kích thước và tuổi thọ
- 1,5 – 2,5 cm; sống 1 – 2 năm
- Độ khó
- khó (nâng cao đến chuyên gia)
Nhận dạng
Các sọc đỏ mảnh chạy dọc hai bên thân, điểm thêm những chấm xanh trắng nhạt, ngả màu lam dưới ánh đèn lạnh. Tép hiền, nhát, gặm suốt ngày và dạn hơn khi sống theo đàn.
Tên gọi của dòng này không thống nhất: có nơi ghi là Caridina striata, có nơi coi là một dạng màu của Orchid. Hai tấm ảnh giống nhau chưa chắc là cùng một loại tép.
Bảng thông số
- Hồ tối thiểu40 lít, hồ càng lớn càng dễ giữ ổn định
- Nhiệt độ26 – 30 °C
- pH7,5 – 8,5
- GH4 – 8
- KH3 – 6
- TDS150 – 250 ppm
- NH3 / NO20
- NO3dưới 10 ppm
- Ánh sángyếu đến vừa, 6 – 8 giờ mỗi ngày
- NềnSulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand (nền khoáng không hạ pH)
- Nướcnước RO pha khoáng Sulawesi 8.5
- Lọclọc ngoài (lọc thùng) hoặc lọc bio (lọc bông), kèm sủi oxy; dòng chảy nhẹ
Dòng này dùng khoáng Sulawesi 8.5. Mức nuôi thực tế tại trại nhân giống tham khảo là TDS 150 ppm, GH 6 – 7. Giữ thông số đứng yên quan trọng hơn chạy theo một con số đẹp.
Hồ nuôi
Các dòng hồ Towuti sống trên nền đá, ăn màng vi sinh bám trên bề mặt cứng. Hồ nên có nhiều đá nham thạch, đá cuội xếp thành khe hốc, ít hoặc không trồng cây, và phải thật già: chạy đủ hai giai đoạn (4 – 6 tuần cho chu trình nitơ, thêm 6 – 8 tuần để màng vi sinh phủ kín đá, tức khoảng 3 tháng), bề mặt đá đã phủ lớp rêu tảo mỏng. Dùng nền Sulasand, Onyx Sand hoặc Flourite Sand. Hạn chế lũa lớn vì lũa nhả tannin làm pH dao động.
Redline thích gặm màng vi sinh trên lá mục, nên thả thêm một miếng lá bàng khô nhỏ và thay khi lá rã. Mỗi lần chỉ dùng một miếng nhỏ, vì lá bàng nhả tannin làm giảm pH.
Thức ăn
Thức ăn chính là màng vi sinh, tảo và tảo cát bám trên đá và kính. Thức ăn chế biến không bù được cho một hồ chưa có lớp màng này.
Chỉ cho thức ăn chế biến khoảng một lần mỗi tuần, lượng nhỏ, còn thừa thì hút ra. Thức ăn thừa trong nước ấm phân hủy nhanh, làm tăng amoniac và NO3.
Thức ăn bổ sung: bột mịn (tảo spirulina, bột vi sinh), viên chuyên cho tép Sulawesi, lá khô (lá bàng, lá dâu tằm, lá ổi; lá bàng làm giảm pH nên mỗi lần chỉ dùng một miếng lá nhỏ) và rau chần (cải bó xôi, bí ngòi). Liều lượng và cách cho ăn xem tại Thức ăn và cách cho ăn.
Sinh sản
Tép con nở ra đã hoàn chỉnh. Số trứng mỗi lứa ít, tép con rất nhỏ và cần hồ nhiều màng vi sinh để sống sót. Đàn tăng chậm.
Nên bắt đầu từ 10 con trở lên để đàn có thể sinh sản.
Nuôi chung
- Nên: ốc Sulawesi (Tylomelania). Ốc dùng chung nước và cùng gặm màng vi sinh, nên phải tính vào mật độ nuôi.
- Không nên: tép ong (nước mềm, axit) và cá, vì cá ăn tép con dù hiền với tép lớn.
- Các dòng Sulawesi nuôi chung có thể lai với nhau. Nên nuôi riêng lúc đầu, và giữ riêng nếu quan tâm ngoại hình đời con.
Khi tép mới về
- Thả nổi túi 15 – 20 phút cho cân bằng nhiệt độ, rồi thuần nước nhỏ giọt trong 2 – 3 giờ theo hướng dẫn ở Chọn mua và thả tép.
- Dùng vợt vớt tép sang hồ. Không đổ nước trong túi vào hồ.
- Tắt đèn hoặc để đèn yếu trong 24 giờ đầu và không cho ăn ngày đầu.
- Nếu hồ đang ở đầu trên của khoảng thông số, hãy hạ dần trong nhiều tuần trước khi đặt tép, đừng chỉnh vào ngày tép về.
Lỗi thường gặp
- Thả tép vào hồ mới, đá chưa có màng vi sinh. Đây là nguyên nhân mất đàn phổ biến nhất của các dòng hồ Towuti.
- Để pH tụt dưới 8,0 do dùng sai loại khoáng hoặc do lũa, lá khô quá nhiều.
- Thay nước quá 10% một lần, hoặc nước mới lệch nhiệt độ và TDS.
- Cho ăn dư. Nhóm này ăn ít thức ăn công nghiệp, phần thừa phân hủy rất nhanh ở 29 °C.