Hồ tép ong dùng nền soil, nước mềm và đèn vừa phải, nên rêu hại thường ít hơn hồ tép màu. Sinh vật lạ chủ yếu đi theo cây, rêu và tép mới. Đa số vô hại; chỉ vài loại đáng lo.
Gặp gì, làm gì
| Sinh vật | Nhận dạng | Có hại? | Xử lý |
|---|---|---|---|
| Ốc nhỏ | vỏ xoắn hoặc dẹt, vài mm | không hại tép; đông lên là dấu hiệu thừa thức ăn | giảm thức ăn; đặt lá rau luộc qua đêm rồi vớt ốc |
| Giun trắng nhỏ | mảnh, vài mm, uốn hình chữ S | thường vô hại | giảm thức ăn |
| Sán dẹt | dẹt, đầu tam giác, trượt trên kính | có: ăn trứng và tép con | xem Sinh vật hại |
| Thủy tức | thân mảnh, một đầu nhiều xúc tu, bám kính | có: bắt tép con | xem Sinh vật hại |
| Ấu trùng chuồn chuồn | nâu, 6 chân, dài 1 – 3 cm | có: ăn cả tép lớn | bắt bỏ |
| Bọ nhỏ bơi giật, hạt nhỏ có vỏ | copepod, ostracod | không | không cần xử lý |
| Rêu nâu | lớp nâu trên kính, hay gặp ở hồ mới | không; tép ăn được | lau kính, để tép dọn |
| Rêu tóc | sợi xanh dài | tép con dễ bị vướng | giảm giờ đèn, vớt tay |
| Rêu xanh lam | lớp nhớt, mùi tanh | làm nước xấu | vớt bỏ, giảm đèn, thay nước nhỏ đều |
Đèn và thức ăn: hai núm điều chỉnh
Rêu hại và ốc bùng lên chủ yếu vì đèn bật quá lâu hoặc cho ăn quá nhiều. Hồ tép ong chỉ cần đèn 6 – 8 giờ mỗi ngày và lượng thức ăn tép ăn hết trong 2 – 3 giờ. Trong nước pH thấp, KH gần 0, vỏ ốc dễ mòn nên ốc ít bùng như ở hồ tép màu; ốc tăng nhanh là dấu hiệu nên xem lại lượng thức ăn và KH.
Không dùng thuốc diệt ốc, diệt rêu bán cho hồ cá: nhiều loại chứa đồng hoặc chất độc với tép, và trong nước mềm của tép ong, đồng còn độc hơn.