Nấm và vi khuẩn hiếm khi là nguyên nhân đầu tiên. Ở hồ tép ong, chúng thường xuất hiện sau một cú sốc: nước nóng, nền soil mới nhả amoniac, hoặc thay nước lệch TDS. Sửa cú sốc trước, bệnh thường tự lui.
Các dạng hay gặp
| Dấu hiệu | Có thể là | Hay gặp khi | Nên làm |
|---|---|---|---|
| Mảng bông trắng trên tép yếu, xác, thức ăn thừa | nấm nước | thức ăn dư, xác không vớt | vớt xác và thức ăn; giảm lượng ăn |
| Đốm đen, nâu hoặc vết loét trên vỏ | vi khuẩn ăn vỏ | tép bị trầy, nước nhiều chất hữu cơ | cải thiện nước; vết nhỏ thường mất sau khi lột |
| Thân chuyển hồng, đỏ bất thường | nhiễm khuẩn hoặc tép sắp chết | sau đợt nóng, sốc nước | tách ra, kiểm tra nước |
| Nhiều tép chết trong vài ngày, xác rữa nhanh, nước có mùi | nhiễm khuẩn diện rộng | nước nóng kéo dài | hạ nhiệt, giảm mật độ, thay nước nhỏ hằng ngày |
Vì sao kháng sinh là lựa chọn cuối
- Kháng sinh giết cả vi sinh trong lọc và trong nền soil, có thể làm NH3, NO2 tăng ngay sau đó.
- Nhiều thuốc trị nấm cho cá chứa xanh methylen hoặc malachite green, độc với tép.
- Tép ong mỗi lứa chỉ khoảng 20 – 30 trứng; một lần mất vi sinh có thể kéo theo mất cả đàn.
Nếu buộc dùng thuốc: chọn loại ghi rõ dùng cho tép, dùng trong hồ cách ly và đo NH3 vài ngày sau.