Tép ong ít khi chết vì bệnh hơn là vì nước, nhưng tép mua từ trại khác hay mang theo ký sinh. Tép ong đắt và đẻ ít hơn tép màu, nên cách ly tép mới là khoản đầu tư rẻ nhất để giữ đàn.
Nhìn dấu hiệu, đoán bệnh
| Thấy gì | Thường là | Mức độ | Đọc tiếp |
|---|---|---|---|
| Lông tơ trắng mịn trên chủy, đầu, chân | Vorticella | nhẹ nếu phát hiện sớm | Vorticella và Scutariella |
| Vài sợi trắng nhỏ nhúc nhích quanh mắt | Scutariella | nhẹ đến vừa | Vorticella và Scutariella |
| Một vùng thịt trắng đục, lan dần | bệnh sứ | nặng, chưa có thuốc chữa | Bệnh sứ và bệnh trắng sữa |
| Đốm đen, nâu hoặc vết loét trên vỏ | vi khuẩn | vừa | Nấm và vi khuẩn |
| Bông trắng trên tép yếu, trên xác | nấm | hậu quả của nước bẩn | Nấm và vi khuẩn |
| Vòng trắng ngang lưng, chết khi lột | lột vỏ hỏng, không phải bệnh | do nước | Lột vỏ hỏng |
| Trắng đều, sáng theo khoang hoặc toàn thân | màu tự nhiên của Crystal, Snow White | bình thường | — |
Cách ly tép mới
- Hồ cách ly 10 – 20 lít, có sủi và một miếng bông lọc đã chạy sẵn trong hồ chính.
- Pha nước RO với khoáng GH+ cho đúng TDS, GH như hồ chính.
- Giữ 2 – 4 tuần; soi đầu, chủy, quanh mắt bằng kính lúp hoặc ảnh chụp cận cảnh bằng điện thoại.
- Tép ăn khỏe, lột vỏ bình thường mới chuyển sang hồ chính.
Phòng bệnh hằng ngày
- Giữ nước dưới 25 °C: nóng làm tép yếu, còn ký sinh và vi khuẩn phát triển nhanh hơn.
- Ngâm rửa cây, rêu mới; không lấy rêu từ hồ cá.
- Cho ăn vừa đủ, vớt thức ăn thừa sau 2 – 3 giờ.
- Khi một hồ có bệnh, dùng vợt và ống hút riêng cho hồ đó.
Thuốc là bước cuối. Đọc Thuốc và hóa chất trước khi cho bất cứ thứ gì vào hồ.