Tép Yellow
Tên khoa học
Neocaridina davidi (Bouvier, 1904), dòng chọn lọc Yellow
Tên khác
Yellow Fire, Yellow Goldenback, Tép vàng
Nhóm
Neocaridina
Nguồn gốc
dòng nhân tạo; loài gốc sống ở suối và ruộng nước Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam
Cấp màu
Yellow → Yellow Fire (vàng đậm, đục); Goldenback có sọc lưng sáng
Kích thước và tuổi thọ
2 – 3 cm; sống 1 – 2 năm
Độ khó
dễ

Nhận dạng

Thân vàng tươi đến vàng chanh. Dòng Goldenback có thêm một sọc sáng chạy dọc giữa lưng.

Garnelio ghi nhận dòng vàng rất khó lai với các dòng khác: lai vàng với đỏ gần như luôn ra tép con nhạt màu. Nên nuôi riêng và không thả chung với tép đỏ.

Bảng thông số

  • Hồ tối thiểu20 lít (nên từ 30 – 40 lít để nước ổn định hơn)
  • Nhiệt độ20 – 26 °C (chịu được 18 – 28 °C)
  • pH6,5 – 7,8
  • GH6 – 8 (chịu được 4 – 10)
  • KH2 – 4 (chịu được 1 – 6)
  • TDS150 – 250 ppm
  • NH3 / NO20
  • NO3dưới 20 ppm
  • Ánh sángvừa, 6 – 8 giờ mỗi ngày
  • Nềnnền trơ (cát, sỏi nhỏ, nền đá núi lửa) hoặc nền thủy sinh không hạ pH mạnh
  • Nướcnước máy khử clo để lắng 1 – 2 ngày, hoặc nước RO pha khoáng có GH và KH
  • Lọclọc bio (lọc bông) hoặc lọc thùng bọc mút đầu hút, kèm sủi oxy

Neocaridina chịu được khoảng thông số rộng, nhưng sợ thay đổi đột ngột. Giữ ổn định quan trọng hơn chạy theo một con số đẹp. Mùa nóng ở Việt Nam, giữ nước dưới 28 °C bằng quạt thổi mặt nước.

Hồ nuôi

Hồ từ 20 lít nuôi được một đàn Yellow 10 – 20 con. Hồ 30 – 40 lít giữ nhiệt và thông số ổn định hơn nhiều, nhất là mùa nóng. Dùng nền trơ hoặc nền thủy sinh không hạ pH mạnh, trồng rêu (Java, Mini Christmas) và cây dễ để tép có chỗ gặm và trú.

Hồ cần chạy xong chu trình nitơ trước khi thả tép, thường 4 – 6 tuần. Lọc bio (lọc bông) là lựa chọn an toàn nhất: không hút tép con và là nơi tép gặm thức ăn. Nếu dùng lọc thùng hoặc lọc treo, bọc mút ở đầu hút.

Thức ăn

Tép gặm màng vi sinh, tảo và mùn hữu cơ trên rêu, đá, lũa. Cho thức ăn chế biến 1 lần mỗi ngày hoặc cách ngày, lượng tép ăn hết trong 2 – 3 giờ, còn thừa thì vớt ra.

Thức ăn bổ sung: viên cho tép, bột vi sinh cho tép con, lá khô (lá bàng, lá dâu tằm, lá ổi) và rau chần (cải bó xôi, bí ngòi). Thức ăn có tảo spirulina và astaxanthin giúp màu đậm hơn. Liều lượng và cách cho ăn xem tại Thức ăn và cách cho ăn.

Sinh sản

Tép trưởng thành sau khoảng 3 – 4 tháng. Con cái ôm 20 – 30 trứng mỗi lứa, ấp khoảng 3 – 4 tuần (nước ấm thì nở nhanh hơn). Tép con nở ra đã có hình dạng tép, không qua giai đoạn ấu trùng, nên sinh sản rất dễ trong hồ nước ngọt.

Phân biệt: con cái to hơn, bụng rộng và màu đậm hơn; con đực nhỏ, thon và nhạt hơn. Khi con cái lột vỏ, con đực bơi khắp hồ tìm (gọi là "tép chạy đàn"), đây là bình thường.

Nuôi chung

  • Nên: ốc nerita, ốc táo nhỏ, ốc ramshorn; cá rất nhỏ và hiền như cá otto. Cá nhỏ khác (tetra, cá bảy màu) vẫn ăn tép con.
  • Không nên: cá lớn hơn miệng tép (cá vàng, cá lia thia, cá rồng), tép càng, cua.
  • Các dòng Neocaridina lai được với nhau. Yellow nuôi chung với dòng màu khác sẽ ra tép con lốm đốm hoặc trở về màu nâu xám tự nhiên sau vài đời. Mỗi dòng nên có một hồ riêng.
  • Neocaridina không lai với Caridina (tép ong, Tiger), nhưng hai nhóm cần nước khác nhau nên ít khi nuôi chung được lâu dài.

Khi tép mới về

  • Thả nổi túi 15 – 20 phút cho cân bằng nhiệt độ, rồi thuần nước nhỏ giọt khoảng 1 – 2 giờ theo hướng dẫn ở Chọn mua và thả tép.
  • Dùng vợt vớt tép sang hồ. Không đổ nước trong túi vào hồ.
  • Tắt đèn đến hết ngày và không cho ăn trong ngày đầu.
  • Tép mới về thường nhạt màu vì căng thẳng, sẽ đậm lại sau 1 – 3 tuần.

Lỗi thường gặp

  1. Thả tép vào hồ chưa chạy xong chu trình nitơ.
  2. Cho ăn quá nhiều, thức ăn thừa thối làm tăng amoniac.
  3. Thay quá nhiều nước một lần (trên 30 %) hoặc nước mới lệch nhiệt độ, TDS.
  4. Dùng thuốc cho cá có đồng (Cu) hoặc thuốc diệt ốc.
  5. Để hồ nóng trên 30 °C vào mùa hè mà không có quạt.
  6. Nuôi chung nhiều dòng màu trong một hồ rồi bất ngờ khi tép con bị lẫn màu.

Nguồn tham khảo